THÔNG TIN NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI VỀ MẶT HỌC THUẬT, LÝ LUẬN CỦA LUẬN ÁN
Tên luận án: Ý định khởi nghiệp công nghệ số: Vai trò của hành vi chấp nhận công nghệ, sự kiểu biết về khởi nghiệp, năng lực và trải nghiệm công nghệ số
Ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 9340101
Nghiên cứu sinh: Huỳnh Thị Mỹ Diệu
Khóa: 2021
Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Tài chính – Marketing
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. Huỳnh Thế Nguyễn
2. TS. Trần Nguyễn Khánh Hải
Những đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn của luận án:
1. Đóng góp về mặt lý luận
Thứ nhất, nghiên cứu vận dụng và tích hợp hai mô hình lý thuyết nền tảng là Mô hình Chấp nhận công nghệ và Lý thuyết hành vi có kế hoạch vào trong một mô hình nghiên cứu thống nhất nhằm giải thích ý định khởi nghiệp công nghệ số. Sự tích hợp này đã khắc phục phần nào các hạn chế của từng mô hình đơn lẻ và nâng cao khả năng giải thích hành vi trong bối cảnh đặc thù của thời đại chuyển đổi số. Đây là một hướng tiếp cận có giá trị lý luận, phù hợp với xu hướng mở rộng mô hình hành vi trong nghiên cứu hiện đại (Ajzen, 1991; Venkatesh & Davis, 2000; Liñán & Fayolle, 2015).
Thứ hai, nghiên cứu đã kiểm định thực nghiệm mối quan hệ giữa các biến trong mô hình kết hợp, như nhận thức về tính hữu ích, nhận thức tính dễ sử dụng của công nghệ, thái độ đối với khởi nghiệp, nhận thức kiểm soát hành vi, các yếu tố khác bao (TBxPG) cho thấy tác động điều tiết âm có ý nghĩa thống kê, qua đó làm rõ rằng quản trị công là yếu tố trung gian quan trọng giúp giảm thiểu tác động tiêu cực của gánh nặng thuế lên khu vực kinh tế chưa được quan sát. Phát hiện này không chỉ bổ sung bằng chứng thực nghiệm mới về hiệu quả của chính sách tài khóa trong bối cảnh thể chế khác biệt, mà còn góp phần mở rộng cơ sở lý thuyết về mối quan hệ giữa thuế, quản trị công và khu vực kinh tế chưa được quan sát trong các nền kinh tế đang phát triển.
Hai là, luận án cung cấp bằng chứng thực nghiệm rõ ràng về tác động của gánh nặng thuế và quản trị công đến quy mô khu vực này. Kết quả ước lượng bằng phương pháp cho thấy gánh nặng thuế có tác động thuận chiều và có ý nghĩa thống kê đến quy mô NOE, tức mức thuế cao làm gia tăng động cơ hoạt động trong khu vực chưa được quan sát. Ngược lại, chất lượng quản trị công tác động ngược chiều, giúp thu hẹp quy mô NOE thông qua việc nâng cao hiệu quả điều hành, giảm chi phí tuân thủ và củng cố niềm tin xã hội. Phát hiện này không chỉ củng cố các kết quả thực nghiệm trước đây mà còn khẳng định vai trò độc lập của hai yếu tố thuế và thể chế trong việc định hình quy mô khu vực kinh tế chưa được quan sát ở các nền kinh tế mới nổi châu Á.
Ba là, luận án xác định được mức ngưỡng của quản trị công (0,2873) mà tại đó tác động tiêu cực của gánh nặng thuế bắt đầu suy giảm đáng kể. Dưới ngưỡng này, thuế làm mở rộng NOE; nhưng khi quản trị công vượt qua ngưỡng xác định, tác động của thuế chuyển hướng, trở nên yếu hoặc không còn ý nghĩa thống kê. Kết quả lượng hóa ngưỡng này là đóng góp thực nghiệm nổi bật, giúp nhận diện điều kiện quản trị công tối thiểu cần đạt để chính sách thuế phát huy hiệu quả, đồng thời cung cấp cơ sở định lượng cho hoạch định chính sách cải thiện quản trị công và quản lý thuế trong các nền kinh tế mới nổi.