THÔNG TIN TÓM TẮT VỀ NHỮNG KẾT LUẬN MỚI CỦA LUẬN ÁN TIẾN SĨ
Tên đề tài: “Nghiên cứu đa dạng và sinh tổng hợp cyclooligomer depsipeptide của nấm ký sinh côn trùng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Copia và Vườn Quốc gia Xuân Sơn”
Chuyên ngành: Vi sinh vật học
Mã số: 9.42.01.07
Nghiên cứu sinh: Nguyễn Thị Thùy Vân
Cán bộ hướng dẫn: PGS, TS Dương Minh Lam và GS, TS Ngô Sỹ Hiền
Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Những kết luận mới của luận án
– Từ 24 mẫu ký chủ thu thập được ở Khu bảo tồn thiên nhiên Copia và Vườn Quốc gia Xuân Sơn đã tiến hành phân lập được 24 chủng nấm. Các chủng nấm đã phân lập được được phân loại vào 6 chi bao gồm chi Aschersonia, Purpureocillium, Beauveria, Cordyceps, Isaria, và Ophiocordyceps. Sàng lọc khả năng sinh tổng hợp COD xác định được 19/24 chùng có khả năng sinh tổng hợp COD, lựa chọn 01 chủng nấm CPA14V có khả năng sinh tổng hợp COD tốt nhất để tiên hành nghiên cứu sâu hơn.
Đã xác định được tên khoa học của chùng CPA14V là Cordyceps cateniannulata dựa trên các đặc điểm hình thái và sinh học phân tử. Đây là lần đầu tiên ghi nhận sự có mặt của loài Cordyceps cateniannulata tại Việt Nam. Khi sử dụng môi trường Czapek-Dox (CzD) với độ pH môi trường 8, nguồn cacbon là glucose, nguồn nitơ là cao nấm men kết hợp với nuôi lắc 150 vòng/phút trong thời gian 6 ngày ở nhiệt độ 25°C thu được kết quả 65,789 ± 2,186 mg/1 COD.
– Đã xác định được điều kiện tách chiết và thu hồi COD từ sinh khối chủng nấm C. cateniannulata CPA14V. Sử dụng dung môi chiết dichloromethane, trong điều kiện nhiệt độ 40-50°C siêu âm trong 2h và quy trình tách chiết đã đề xuất thu được COD sạch 98,1% với hiệu suất thu hồi đạt 0,37% lượng sinh khối khô. COD thu được từ chủng C. cateniannulata CPA14V có ba nhóm N-MePhe và ba nhóm Hiv, có tên gọi là beauvericin.
Beauvericin thu được từ chủng C. cateniannulata CPA14V thể hiện hoạt tính sinh học tốt. Có khả năng gây độc dòng tế bào ung thư gan Hep-G2 (giá trị IC50=19,17 µg/mL), ung thư tuyến tiền liệt (PC-3) (giá trị IC50= 23,52 µg/mL), thể hiện hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định tốt nhất với tất cả các chủng vi khuẩn và nấm thử nghiệm với giá trị MIC=100-200µg/ml.