THÔNG TIN VỀ LUẬN ÁN
Tên luận án: Cảnh quan văn hoá thích ứng lũ lụt khu dân cư hạ lưu sông Kôn và sông Hà Thanh, tỉnh Bình Định
Chuyên ngành: Quy hoạch vùng và đô thị
Mã số: 9.58.01.05
Họ tên nghiên cứu sinh: Phạm Việt Quang
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. KTS Phạm Anh Dũng
Cơ sở đào tạo: Trường Đại Học Kiến Trúc thành phố Hồ Chí Minh
1. TÓM TẮT NỘI DUNG LUẬN ÁN:
Luận án có 150 trang, ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Kiến nghị, nội dung chính của luận án bao gồm 3 chương: Chương 1: Tổng quan cảnh quan văn hóa thích ứng với lũ lụt ở khu vực dân cư hạ lưu sông Kôn và sông Hà Thanh. Chương 2: Cơ sở khoa học cảnh quan văn hóa thích ứng lũ lụt khu vực dân cư hạ lưu sông Kôn và sông Hà Thanh. Chương 3: Đề xuất mô hình và giải pháp không gian cảnh quan văn hoá thích ứng lũ lụt khu vực dân cư hạ lưu sông Kôn và sông Hà Thanh
Khu vực hạ lưu sông Kôn – sông Hà Thanh là “rốn lũ” của Bình Định, hằng năm chịu 3-4 đợt lũ lớn (đinh vào tháng 10-12, mưa 200-400 mm/ngày), gây thiệt hại nghiêm trọng: từ 1990-2019 có 462 người chết, thiệt hại hơn 11.000 tỷ đồng; riêng năm 2021 ngập hơn 23.000 nhà, phá hỏng hạ tầng và năm 2023 tiếp tục thiệt hại nặng. Đến năm 2035 khu vực nghiên cứu có 5 đô thị với 672.550 dân số dự kiến, tập trung khu vực hạ lưu khiến hành lang thoát lũ bị thu hẹp, vùng trữ nước tự nhiên bị san lấp, còn tri thức bản địa về “sống chung với lũ” dần mai một. Từ thực trạng đó, luận án “Cảnh quan văn hóa thích ứng lũ lụt khu vực dân cư hạ lưu sông Kôn – sông Hà Thanh”. Phương pháp nghiên cứu: – Nghiên cứu tài liệu. Phân tích – so sánh – tổng hợp. Bản đồ (GIS). Khảo sát cộng đồng. Phòng vấn chuyên gia được thực hiện nhằm: (1) Xác định giá trị cảnh quan văn hóa thích ứng lũ, (2) Phân vùng dân cư theo 3 cấp độ (an toàn, rủi ro cao, nguy cơ trung bình), (3) Đề xuất các giải pháp tổ chức không gian: Phân bố dân cư, phát triển sinh kế, hạ tầng kỹ thuật, bảo tồn di tích – kiến trúc và nâng cao năng lực cộng đồng giai đoạn 2035-2050.
2. NHỮNG KẾT QUẢ MỚI CỦA LUẬN ÁN:
– Các giá trị văn hoá ứng xử với lũ thể hiện ở việc chọn chỗ ở (trên các gò cao, dải đất cao ven sông…), tổ chức sinh kế gắn với nước (canh tác, đánh bắt, đi lại theo “lịch nước”), xây dựng hạ tầng – kiến trúc chấp nhận lũ (đê, kè, kênh mương, cống, ao trữ nước, nhà sàn, gác lửng, kho lương cao…) và tổ chức cộng đồng (đội ghe cứu hộ, sử dụng đình/chùa/trường học làm nơi trú ẩn, nghi lễ – tín ngưỡng liên quan đến nước).
– Xây dựng khung cảnh quan văn hoá thích ứng lũ lụt. Thứ nhất, phân bố dân cư – sinh kế phân bố dân số theo các cấp rủi ro và theo từng khu vực dân cư. Thứ hai, hạ tầng kỹ thuật thích ứng được thể hiện qua diện tích đất ở và đất công trình công cộng phải di dời và chuyển đổi chức năng sử dụng đất chuyển dịch (tái định cư), duy trì (đê, kênh mương bao quanh) và chủ động ứng phó (ao, hồ, hào nước)”. Thứ ba, đặc điểm kiến trúc – không gian xanh được hỗ trợ bởi kết quả phân tích NDVI, cho thấy diện tích không gian xanh giảm khoảng ¼ cây xanh giai đoạn 2005- 2025, qua đó khẳng định yêu cầu bảo vệ hành lang thoát lũ, mặt nước và cây xanh trong mô hình CQVH. Cuối cùng, tổ chức cộng đồng được thông qua mô hình ba nhóm hành động nói trên (chuyển dịch – duy trì – chủ động ứng phó),
Ứng dụng tại 5 khu vực dân cư (Tây Sơn, An Nhơn, Cát Tiến, Tuy Phước, Quy Nhơn) với tổng diện tích nghiên cứu khoảng 203 km² và quy mô dân số đô thị hơn 630.000 người, mô hình cho thấy nếu thực hiện đầy đủ các giải pháp di dời khoảng 687,62 ha đất ở rủi ro rất cao, bố trí 177,1 ha đất công cộng tái định cư và áp dụng biện pháp chống ngập cho khoảng 3.111,6 ha đất ở, số người có nguy cơ bị ảnh hưởng bởi lũ dự kiến giảm khoảng 9% (60.530 người).”