NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
Họ và tên NCS: Hà Minh Hải Mã NCS: NCS37.022CT
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị Mã số: 9310102
Đề tài luận án: Quản lý thuế đối với các doanh nghiệp khu vực tư nhân – Nghiên cứu trên địa bàn thành phố Hà Nội
Người hướng dẫn: PGS.TS. Trần Việt Tiến.
Đề tài luận án: Quản lý thuế đối với các doanh nghiệp khu vực tư nhân – Nghiên cứu trên địa bàn thành phố Hà Nội
Những đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận
Thứ nhất, luận án dựa trên nghiên cứu của Richard M. Walker, Rhys Andrews (2013), và nghiên cứu của Irene Belmonte-Martin & cộng sự (2021), để từ đó luận giải cơ sở lý thuyết về quản lý thuế (QLT) đối với các doanh nghiệp khu vực tư nhân (DNKVTN).
Luận án khẳng định, sở dĩ cần QLT đối với các DNKVTN bởi đây là khu vực có nhiều điểm khác biệt so với các khu vực khác, nhất là khu vực nhà nước và để đảm bảo hài hòa lợi ích của các DNKVTN và của Nhà nước.
Thứ hai, luận án đã xây dựng khung lý luận về QLT phù hợp với đặc thù của các DNKVTN. Cụ thể :
Luận án đã luận giải nội dung QLT đối với các DNKVTN. Đó là, hoạch định chiến lược thuế, tổ chức thực hiện QLT, kiểm tra, giám sát QLT. So với nghiên cứu của Richard M. Walker, Rhys Andrews (2013), và nghiên cứu của Irene Belmonte-Martin & cộng sự (2021), trong nội nghiên cứu này, tác giả đã bổ sung nội dung kiểm tra, giám sát QLT vào nghiên cứu.
Những phát hiện, đề xuất mới rút ra được từ kết quả nghiên cứu, khảo sát của luận án
Luận án đã tìm ra những hạn chế QLT đối với KVDNTN, từ đó xác định nguyên nhân hạn chế, đồng thời đề xuất hệ thống giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế này. Có thể nói đến như:
– Trong hoạch định chiến lược thuế thực tế vẫn bộc lộ một số điểm chưa thực sự phù hợp với điều kiện đặc thù của DNKVTN trên địa bàn thành phố Hà Nội. Trong đó, chưa tính đến yếu tố đặc thù của doanh nghiệp theo ngành nghề, lĩnh vực, qui mô. Nguyên nhân cơ bản của hạn chế này là do các quy định liên quan đến QLT chưa phù hợp với sự phát triển của các doanh nghiệp trong đó có DNKVTN và còn thiếu đồng bộ. Vì vậy, để khắc phục được hạn chế này, cần phải thực hiện theo phương hướng hoàn thiện QLT đối với DNKVTN trước hết phải đảm bảo lợi ích cho các bên liên quan, và do vậy, trong hoạch định chiến lược thuế cần phải tăng cường công tác phân tích dự báo nhằm đưa ra đánh giá và nhận định đúng, đủ, kịp thời về tình hình kinh tế, xã hội trên địa bàn thành phố nói riêng, cả nước nói chung.
– Trong thanh tra kiểm tra việc chấp hành nghĩa vụ thuế của các DNKVTN cho thấy, hiện còn tiềm ẩn nguy cơ thiếu khách quan, minh bạch ở khâu giám sát tổ chức triển khai bởi chính bộ phận thanh tra, kiểm tra thuế thực hiện. Nguyên nhân cơ bản là do bộ máy QLT còn cồng kềnh và chất lượng nhân lực QLT đối với DNKVTN còn hạn chế và do tính minh bạch QLT chưa cao. Vì vậy cần phải nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình của QLT .
– Trong kiểm tra, giám sát QLT, cơ quan thuế chưa xây dựng được kho trung tâm dữ liệu thông tin về rủi ro chính sách, lỗi qui trình đã phát hiện, những sự cố đến tính bảo mật và tính toàn vẹn của cơ sở dữ liệu QLT. Nguyên nhân dẫn đến hạn chế này là do bộ máy QLT còn cồng kềnh và chất lượng nhân lực QLT đối với DNKVTN còn hạn chế, cơ sở vật chất thực hiện QLT chưa đáp ứng được yêu cầu. Do vậy, để nâng cao hiệu quả và hiệu lực trong QLT đối với DNKVTN trên địa bàn thành phố Hà Nội, thì Cục Thuế Hà Nội cần phải xây dựng, phát triển nền tảng QLT số trong thời gian tới.